Quy trình kỹ thuật trồng ca cao

Đăng bài lúc: Thứ sáu, 05/01/2018

Ca cao là cây thường xanh tầng trung, cao 4–8 m (15–26 ft), Ưa bóng rợp, có khả năng chịu bóng tốt nên thường được trồng xen dưới tán cây khác như trong các vườn dừa, cao su, vườn rừng... có sẵn để tăng hiệu quả sử dụng đất.



Ca cao cho hạt làm nguyên liệu sử dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm cụ thể là các sản phẩm cao cấp như Sô cô la, Ca cao... nên cho giá trị kinh tế rất cao.
 
1. Điều kiện sinh trưởng của ca cao
1.1 Đất đai: cây ca cao có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, trên đất cát, đất phù sa ven sông và cả trên đất nghèo dinh dưỡng nhưng có bóng che và gần nguồn nước. Ca cao chịu được trên đất có độ pH từ 5-8 nhưng tối ưu từ 5,5-6,7 và có khả năng chịu được độ mặn 40/00.

1.2 Khí hậu: cây ca cao được trồng trên những vùng có lượng mưa hằng năm khoảng 1.500-2.000 mm, phát triển được trên các vùng đất có cao độ từ mặt nước biển cho đến 800m. Cây ca cao thích nghi tốt ở nhiệt độ tối đa khoảng 18 - 21oC, tuy nhiên cây bị thiệt hại nghiêm trọng ở nhiệt độ 10oC. Ẩm độ thích hợp cho cây phát triển khoảng 70 - 80%. Cây ca cao mẫn cảm rõ rệt với nhiệt độ, vũ lượng và ẩm độ quá cao hay quá thấp.

Lá ca cao non có bản rộng và cuốn dài dễ bị lay gãy hoặc trầy nát khi gặp gió mạnh gây hậu quả cây bị còi cọc chậm lớn. Chính vì các lý do trên mà việc trồng cây chắn gió chung quanh vườn Ca cao rất cần thiết, nhất là thời kỳ kiến thiết cơ bản, dừa là cây chắn gió lý tưởng có thể bao quanh vườn Ca cao.

2. Kỹ thuật trồng cây Ca cao

2.1 Giai đoạn chuẩn bị: trồng cây che bóng cho cây Ca cao là yếu tố then chốt quyết định sự thành công trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, khi đảm bảo được bóng che thì chưa nên trồng Ca cao. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc Ca cao trồng xen trong vườn. Dừa là cây che bóng vĩnh viễn là cây trồng chung với Ca cao và tồn tại suốt chu kỳ sinh trưởng của ca cao.

2.2 Chuẩn bị đất: Mật độ và khoảng cách trồng: ca cao trồng xen trong vườn dừa với khoảng cách 3x3 m cho thấy là hợp lý. Nếu trồng mật độ dầy hơn năng suất tối đa đạt nhanh hơn nhưng vốn đầu tư ban đầu về giống và công lao động cao. Mật độ có thể từ 400-700 cây /ha.

2.3 Chuẩn bị hố trồng:
Mật độ và khoảng cách trồng: 3 x 3m (trồng thuần cây thực sinh, cây ghép)
Trồng xen: (dừa, điều) 400 – 700 cây /ha- Kích thước hố: 40 x 40 x 50 cm
Trước khi trồng ở vùng đất mới, gần rừng nơi có nhiều mối, cần xử lý hố trồng với thuốc trừ sâu có hoạt chất Imidacloprid (Confidor, Admire) hoặc Chlorpyrifos (Lentrek, Pyrimax, Mapy, Lorban).
Phân bón lót (lân, vôi, phân hữu cơ) được ủ ngay khi đào xong hố, trước khi trồng cây.

Cách phun thuốc:
+ Phun dưới đáy và quanh thành hố trước khi đặt cây vào.
+ Sau khi trồng xong cần phun thuốc trên mặt đất nơi trồng cây và toàn thân cây (phòng trị mối và côn trùng chích hút, ăn lá).

2.4 Bón lót: để cung cấp nguồn dinh dưỡng cho cây Ca cao trong thời gian đầu, nên trộn chung vào đất hỗn hợp phân bón gồm 100gram super lân + 50gram phân tổng hợp 20-15 – 20 + phân hữu cơ để lấp đầy hố trống và quanh bầu cây.

2.5 Giống: ca cao là cây dài ngày nên việc chọn giống là rất quan trọng, không đúng sẽ thiệt hại lâu dài hoặc phải mất từ 3-5 năm và tốn nhiều công của thời kỳ kiến thiết cơ bản nếu quyết định thay đổi giống khác tốt hơn. Ca cao có 03 nhóm giống chính là Forastero, Crillo và Trinitario. Giống hiện có ở Bến tre là giống Forastero và con lai giữa Forastero cùng Trinitario.

3.Trồng và chăm sóc
Cách trồng: sau khi hố và cây con đã chuẩn bị xong, dùng dao bén cắt bỏ phần đáy bầu và phần rễ cái bị cong. Đặt nguyên bầu đã cắt đáy vào hố. Lấp đất lại xung quanh bầu, nén chặt lại và từ từ kéo nhựa ra khỏi bầu đất. Không nên lấp đất trồng cây con quá sâu, cây con sẽ khó phát triển, nên lấp bằng mặt bầu là tốt, nên trồng cây vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Tưới nước: nguồn nước tưới từ sông hồ hay nước giếng, tưới theo hàng hay tưới từng cây nhưng không nên tưới lúc trời nắng to. Khi cây còn non, tránh dùng vòi nước phun thẳng vào cây vì có thể gây đỗ ngã. Trường hợp cây đang trổ bông hay có trái non cũng cần để tránh vòi nước phun vào hoa, trái sẽ ảnh hưởng đến thụ phấn và gây rụng trái non. Nên kết hợp bón phân trước khi tưới nước thì hiệu quả sẽ cao hơn. Bón phân: trong năm đầu tiên tổng lượng phân bón cho mỗi cây từ 150 - 200 gram phân tổng hợp NPK. Trong năm thứ hai lượng phân tăng lên vào khoảng 300-400 gram, năm thứ ba là 500-600 gram. Từ năm thứ tư trở đi lượng phân còn lại khoảng 800-1.000 gram/gốc. Lượng phân được chia ra bón nhiều lần trong mùa mưa.

Trong những năm đầu lượng phân cần chôn quanh gốc nhưng khi cây đã giao tán vào thời kỳ kinh doanh chỉ cần rãi trên mặt là được, sau đó đậy bằng lá mục vốn có sẳn trong các vườn ca cao. Tỉa cành - tạo tán: điều chỉnh cây phát triển cân đối, cành vươn đều mọi hướng, tán lá thông thoáng để giảm thiểu sâu bệnh, chiều cao cây hợp lý dễ chăm sóc và thu hoạch. Việc tạo hình, tạo tán còn tuỳ thuộc vào cây trồng từ hạt, hay cây ghép.

4.Cây trồng từ hạt: chỉ cần giữ 1 thân chính, điều chỉnh tầng cành đầu tiên có độ cao 1,5 - 2 m từ mặt đất. Khi cây phân cành và điều chỉnh các yếu tố giới hạn (tưới nước, bón phân, che bóng…). Bằng cách nầy có thể đưa vị trí phân cành lên thêm khoảng 50 cm khi cây phân cành trở lại. Khi cây đã giao tán, nên tỉa thông thoáng vùng thân chính và chung quanh điểm phân cành để kích thích phát triển trái và hạn chế sâu bệnh.

5. Cây ghép: do mầm ghép lấy từ cành ngang nên cây không phát triển tầng cành mà phát triển theo dạng bụi có nhiều thân (có từ 3-7). Các nhánh phụ ở phần gốc, cành bị che khuất hay mọc hướng xuống cần được tỉa bỏ để tạo sự thông thoáng cho cây, hạn chế sâu bệnh, kích thích ra hoa và tiện cho việc chăm sóc thu hoạch. Tỉa bỏ hoàn toàn các cành thứ cấp trong khoảng 1 m cách mặt đất khi cây vào giai đoạn kinh doanh.

6. Tỉa cành tạo tán:
Nguyên lý chung:
+ Điều chỉnh cây phát triển cân đối, cành vương đều mọi hướng để nhận ánh sáng nhiều nhất.
+ Tán lá tỏa kín không gian dành riêng cho từng cây và không có lỗ hổng trong tán cây.+ Dưới tán phải thông thoáng để giảm thiểu sâu bệnh
+ Chiều cao cây hợp lý để chăm sóc. Đối với cây thực sinh thì tầng cành đầu tiên cách mặt đất khoảng 1,1 – 1,3m. Đối với cây ghép là 40 – 50 cm.
+ Số lượng cành chính để tạo bộ khung nâng đỡ tán cây càng ít thì đường kính thân càng lớn nên trái càng to và nhiều…

7. Phòng trừ sâu bệnh: Côn trùng gây hại chính
7.1 Bọ xít muỗi (Helopeltis spp ): triệu chứng và tác hại: chích hút nhựa trái, chồi non, cành non. Các vết chích bị thâm, sau đó bị thối. Chồi non, cành non bị hại sau sẽ héo khô; Biện pháp phòng trừ : Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bớt cành nhánh không cần thiết. Có thể phun các loại thuốc như Bassa 50 EC, Supracide 40 ND.

7.2 Sâu hồng (Glenia celia): triệu chứng và tác hại : sâu thường đục phần thân ngọn và các cành rồi đùn phân và mạt cưa ra ngoài miệng lỗ đục và rơi xuống đất. Những cành ca cao bị đục sẽ héo rồi chết khô; Biện pháp phòng trừ : thường xuyên thăm vườn để phát hiện sớm sau đó cắt các cành bị hại và đốt để diệt sâu nằm trong. Các loại thuốc được sử dụng như Basudin 50 EC.

7.3 Bọ cánh cứng hại lá (Apogonia spp, Adoretus spp): côn trùng ăn lá ca cao thuộc nhiều loài khác nhau như bọ nâu, bọ xám, bọ hung kim; Triệu chứng và tác hại: chủ yếu phá hại vào ban đêm, ban ngày trú ngụ nơi tối hay dưới đất. Bọ ăn lá non tạo những lỗ khuyết trên lá làm giảm sự phát triển của cây; Biện pháp phòng trừ: vệ sinh vườn sạch sẽ, có thể phun các loại thuốc như Basudin 50 ND.

7.4 Rầy mềm (Aphid): triệu chứng và tác hại: Rầy mềm sống tập trung và chích hút nhựa cây trên các chồi non, lá non, trái non làm cây chậm phát triển, trái khô héo. Thường có các loài kiến sống kết hợp với loài rầy nầy; Biện pháp phòng trừ: vệ sinh vườn sạch sẽ, có thể phun các loại thuốc như Bassa 50 EC theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

7.5 Rệp sáp (Planococcus citri): triệu chứng và tác hại: Rệp sáp sống bám vào cuống lá, trái, thân, trái non hay cổ rễ để hút nhựa làm cây, trái chậm phát triển, còi cọc. Rệp tiết ra chất hơi dính như mật ong nên thường có nhiều loại kiến sống kết hợp với rệp; Biện pháp phòng trừ: Cần chú ý theo dõi để phát hiện những ổ rệp sáp mới hình thành tránh hiện tượng lây lan. Có thể diệt rệp sáp bằng cách phun các loại thuốc trừ sâu như Bi 58 40 EC.

7.6 Chuột ăn trái: chuột thích ăn cùi ngọt bao quanh hạt ca cao. Thường chúng cắn phá quả ca cao bằng cách khoét lỗ để moi hạt. Khi chuột gây hại nặng buộc phải tổ chức diệt trừ bằng cách dùng bả độc cho kết quả tốt.

8. Bệnh hại ca cao
8.1 Bệnh thối trái (Phytopthora palmyvora: ) Triệu chứng: bệnh xuất hiện trên mọi lứa tuổi của trái. Bệnh phát triển nhiều vào mùa mưa. Trái bị bệnh có màu nâu đen làm giảm năng suất 20-35%, đôi khi 90%; Phòng trừ: chúng ta cần hái bỏ các trái thối càng sớm càng tốt để tránh lây lan đặc biệt trong mùa mưa. Không nên để trái chín lâu trên cây. Vườn cây nên được thông thoáng, khô ráo, không còn cỏ dại. Có thể sử dụng các thuốc trừ nấm có gốc đồng, phun định kỳ 10 - 12 ngày/lần để hạn chế mầm bệnh.

8.2 Bệnh nấm hồng (Corticium salmoncolor): bệnh thường chỉ xuất hiện vào mùa mưa, ở những  vườn ca cao quá ẩm và rợp. Nấm phá hoại ở những cành lá đã hoá nâu. Vết bệnh lúc đầu có vết mốc trắng nhưng dần dần chuyển sang màu trắng hồng, cành khô nâu, lớp vỏ thân cành bị tách ra từng mảng. Để phòng trừ cần tỉa cây thông thoáng giảm ẩm độ, cắt bỏ các cành bị bệnh và phun thuốc trừ nấm.

8.3 Bệnh hại rễ (Rigidoporus lignosus, Ganoderma pseudoferum, Phellinus noxius, Rosellina bunodes): rễ ca cao có thể bị trắng, hoá nâu, hoá đen hoặc nứt cổ rễ gây ra bời nhiều loại nấm khác nhau. Vệ sinh đồng ruộng, xử lý hố trước khi trồng, tránh trồng nơi đất khó thoát nước, tránh tổn thương rễ. Phòng trị bằng bằng các loại thuốc trừ nấm phun trực tiếp quanh gốc.
 

Quốc Bảo (Nguồn Bộ NNPTNT, 2lua)

Top